Hướng dẫn phân tích bài thơ Bếp Lửa – Bằng Việt

Phân tích bài thơ Bếp lửa tác giả Bằng Việt

Bếp lửa là một tác phẩm để đời của nhà thơ Bằng Việt. Bài thơ được sáng tác năm 1963 và in trong tập Hương cây – Bếp lửa. Cùng thầy cô của NovaTeen phân tích bài thơ này trong sách Ngữ Văn lớp 9 nhé.

Phân tích bài thơ Bếp Lửa

I. Tác giả

Nhà thơ Bằng Việt - tác giả bài thơ Bếp Lửa
Nhà thơ Bằng Việt – tác giả bài thơ Bếp Lửa
  • Tên thật: Nguyễn Việt Bằng- 1941
  • Quê: Thạch Thất – Hà Tây
  • Thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
  • Thơ ông giàu cảm xúc tinh tế, giọng điệu tâm tình, mượt mà sâu lắng. Thơ Bằng Việt thường khai thác những kỉ niệm thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ.
  • Các tác phẩm tiêu biểu:

+ Hương Cây – Bếp Lửa (In chung với Lưu Quang Vũ – 1968)

+ Những gương mặt, những khoảng trời (1973)

+ Đất sau mưa (1977)

+ Khoảng cách giữa lời (1983)

+ Cát sáng (1986)

II. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

  • Sáng tác năm 1963 khi Bằng Việt là sinh viên đại học luật ở nước ngoài.
  • Được in trong tập Hương cây – Bếp Lửa (In chung với Lưu Quang Vũ – 1968)
  • Đây là một trong những sáng tác đầu tay, song ngay từ khi ra đời, bài thơ đã có một vị trí quan trọng trong đời thơ Bằng Việt và có một vị trí xứng đáng trong nền văn học nước nhà.
  • Cùng với một số bài thơ khác trong Hương Cây – Bếp Lửa Bằng Việt đã tạo ra được một dấu ấn riêng, một phong cách thơ trầm lắng, nghiêng về những lời trao đổi tâm sự thấm thía nhưng không kém phần tài hoa, trí tuệ.
  • Trong nền thơ hiện đại, Bếp Lửa được đánh giá là một trong không nhiều những bài thơ viết về tình bà cháu hay nhất.
Hình ảnh minh họa Bà và cháu bên Bếp lửa hồng
Hình ảnh minh họa Bà và cháu bên Bếp lửa hồng

b. Bố cục

  • Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa, gợi những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu được bà, về lẽ sống của bà. Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp bà.
  • Bố cục bài thơ Bếp Lửa đi theo mạch cảm xúc: hồi tưởng hiện tại, kỉ niệm suy  ngẫm. Lựa chọn bố cục như thế là thích hợp với việc khắc hoạ kỉ niệm tuổi thơ. Bố cục đó còn cho thấy hình ảnh của bà khắc sâu vào tâm khảm của người cháu, thành chỗ dựa tinh thần để người cháu trưởng thành.
  • Bố cục chia 3 phần:

+ 3 dòng đầu: hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc cho những hồi tưởng về bà.

+ 4 khổ tiếp: những kỉ niệm tuổi thơ và hình ảnh bà trong hồi tưởng của cháu.

+ Còn lại: suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

c. Phân tích tác phẩm

Trong dòng chảy cuộc đời của mỗi con người, kỉ niệm tuổi thơ bao giờ cũng lắng đọng một góc sâu xa trong tâm hồn. Những kỉ niệm ấy thường gắn bó với những gì thân thương nhất. Nếu Tế Hanh nhớ về tuổi thơ, nhớ về quê hương là nhớ về dòng sông xanh biếc, Xuân Quỳnh bồi hồi khi bắt gặp một tiếng gà trưa khi dừng chân bên xóm nhỏ trên đường hành quân. Thì với Bằng Việt, bếp lửa bập bùng cháy và hình ảnh của người bà là tất cả những gì tha thiết nhất mà nhà thơ hằng lưu giữ trong lòng.

Bếp lửa là hình ảnh quen thuộc và bình dị trong mỗi gia đình, nó gợi sự ấm áp, gần gũi và đoàn tụ. Bởi vậy, chọn biểu tượng bếp lửa khi viết về tình bà cháu và lấy Bếp Lửa là tiêu đề cho cả bài thơ thì đây là một tiêu đề, một biểu tượng rất giàu ý nghĩa. Nó thể hiện những suy tư sâu lắng trong phong cách thơ Bằng Việt.

* Khổ thơ đầu:

Bài thơ mở ra hình ảnh bếp lửa quen thuộc, bình dị ở mỗi làng quê Việt Nam:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

… Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Ba tiếng một bếp lửaláy đi láy lại, trở thành điệp khúc da diết ngay từ những dòng thơ đầu tiên. Bếp lửa được nhóm lên vào buổi sáng sớm, rung rinh, mờ tỏ. Hình ảnh ấy gợi cái ấm áp giữa “chờn vờn sương sớm”, gợi cái thân thương với biết bao “ấp iu nồng đượm”. Hai chữ “chờn vờn” giúp ta hình dung được ngọn lửa bập bùng, lay động, khi tỏ khi mờ. Từ láy “ấp iu” không chỉ diễn tả thật chính xác công việc nhóm lửa mà còn gợi liên tưởng tới đôi bàn tay kiên trì, khéo léo và tấm lòng ấm áp, đôn hậu của người nhóm lửa.

Từ hình ảnh bếp lửa, rất tự nhiên, dòng hồi tưởng về bà chợt ùa về: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Khổ thơ đầu kết thúc trong cảm nhận của người cháu. Cảm nhận ấy bật ra bằng một chữ “thương”, nó lan toả trong câu thơ và thấm sâu vào lòng người đọc.

Cả bài thơ có hai chữ “thương”, Bằng Việt đã dành trọn để “thương bà” (Cháu thương bà biết mấy nắng mưa, Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc). “Biết mấy nắng mưa”, chỉ 4 chữ đã gợi ra hình ảnh của bà với bao lo toan, vất vả, lặng lẽ, âm thầm. Người cháu hiếu thảo cũng đôi lần nhắc lại: “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa” – nỗi vất vả nhọc nhằn của bà trở thành nỗi ám ảnh day dứt khôn nguôi trong lòng cháu suốt đời. Hình ảnh người bà hiện lên trong tâm trí tác giả rất nhẹ nhàng, sâu lắng, mỗi lúc một rõ ràng và trở thành hình ảnh trung tâm trong các khổ thơ tiếp theo.

* 4 khổ thơ tiếp:

Là dòng chảy của kí ức về những năm tháng tuổi thơ sống bên bà.

– Kỉ niệm khi lên 4 tuổi:

Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói

… Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

5 câu thơ gợi lại cả một tuổi thơ nhọc nhằn, gian khổ. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bởi vậy, gây ấn tượng mạnh mẽ với cháu là cái đói, cái nghèo. Cái đói dai dẳng và mòn mỏi khắp chốn thôn quê. Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” và cách diễn đạt bằng hình ảnh đầy ấn tượng “khô rạc ngựa gầy” vừa phản ánh chân thực cuộc sống, vừa gợi những xúc cảm thật sâu sắc và đậm nét  của người trong cuộc.

Song nếu ấn tượng không quên là cái đói, cái nghèo, thì ấn tượng sâu đậm hơn cả lại là mùi khói:

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

“Khói hun nhèm mắt” là khói từ củi ớt cay xè từ bếp lửa nhà nghèo. Nhà thơ đã lựa chọn được một chi tiết sát thực để vừa miêu tả được chân thực cuộc sống tuổi thơ, vừa diễn tả được những xúc động bâng khuâng, da diết: “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”. Còn cay” là còn nguyên nỗi xúc động. Cảm xúc hiện tại và kỉ niệm năm xa đồng hiện, hoà lẫn vào nhau. Hai dòng thơ rất thực mà tràn ngập cảm xúc.

Thơ Bằng Việt có sức truyền cảm mạnh mẽ nhờ ở những chi tiết, ngôn từ giản dị mà chân thực. Cái “bếp lửa” kỉ niệm của ông mới chỉ khơi lên, thoang thoảng mùi khói, mờ mờ sắc khói mà đã đầy ắp những hình ảnh hiện thực, thấm đẫm bao tình nghĩa sâu nặng.

– Kỉ niệm của 8 năm ở cùng bà:

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

… Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế

Giặc đói chưa qua thì giặc ngoại xâm tràn tới. Gia đình li tán “Mẹ cùng cha công tác bận không về”, cháu lại gắn bó cùng bà. “Tám năm ròng” con số không lớn, nhng ngày tháng sao kéo dài nặng nề, ròng rã thế! Vì “Những ngày ở Huế” ấy, cuộc sống gia đình thật quạnh vắng, chỉ có hai bà cháu cặm cụi bên nhau, nhóm lửa mỗi sớm, mỗi chiều trong tiếng tu hú kêu da diết. Nếu trong hồi ức xa là “mùi khói”, thì ở đây, ấn tượng khắc chạm trong tâm khảm người cháu chính là tiếng chim tu hú ấy.

Mười một câu thơ mà âm vang tới 5 lần tiếng kêu của loài chim lẻ loi ấy. Lúc vẳng vẳng, mơ hồ từ “những cánh đồng xa”, lúc gần gũi, giục giã “sao mà tha thiết thế”, lúc gióng giả, dồn dập “kêu hoài”, lúc khắc khoải như than thở, sẻ chia…. Tiếng chim tu hú gợi ra cả một không gian trống vắng, khơi sâu thêm cái cảm giác quạnh vắng, cô đơn. Trên cái nền hoang tàn vì khói lửa chiến tranh, giữa cái âm thanh khắc khoải bồn chồn của tiếng chim tu hú, hai bà cháu nương tựa vào nhau để duy trì cuộc sống. Thương con tu hú bơ vơ mới càng thêm thấm thía cái ơn được bà yêu thương, chắm chút, đùm bọc.

Giọng thơ thủ thỉ như giọng kể của một câu chuyện cổ tích. Đưa âm thanh đồng nội ấy vào trong thơ, thi sĩ Bằng Việt quả có một tâm hồn gắn bó sâu nặng với quê hương, xứ sở.

Trong những cung bậc khác nhau của tiếng chim tu hú, tình cảm của người cháu mỗi lúc một thiết tha và hình ảnh người bà dần hiện rõ:

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

Bên bếp lửa hồng, bà đã thay thế vai trò người mẹ. Bà “kể chuyện”, chuyện đời thực ngày nay, chuyện cổ tích ngày xa… Rồi “bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”. Từng việc, từng việc, nhỏ nhẹ, âm thầm. Các câu thơ ngắn, liệt kê diễn tả một cách sâu sắc tấm lòng yêu thương, chăm chút, tỉ mỉ, ân cần mà bà đã dành cho cháu, nuôi cháu lớn khôn, soi sáng trí tuệ và tâm hồn của cháu. Sống trong tình yêu thương, chở che của bà, cháu ơn bà biết bao, nên những dòng thơ cứ bật ra thật tự nhiên mà cảm động: “thương bà khó nhọc”.

Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa

Nghệ thuật nhân hoá khiến lời thơ thành lời gọi tâm tình. Ẩn sau lời trách cứ nhẹ nhàng ấy là bao nỗi nhớ thương. Bây giờ là thương bà cô đơn, quạnh vắng…

Dòng kỉ niệm cứ trải ra mênh mông như ánh sáng của bếp lửa trong nhà hắt ra toả sáng cả xóm làng, đất nước:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

… Cứ bảo nhà vẫn được bình yên

Đọc đoạn thơ, ta thấy được bức tranh cuộc sống làng quê chân thực, nguyên khối. Đó là cảnh xóm làng bị “giặc đốt” “cháy tàn cháy rụi”, xơ xác, tiêu điều. Nhưng trong hoàn cảnh thử thách khốc liệt của chiến tranh, chúng ta càng thấm thía hơn vẻ đẹp tinh thần của con người Việt Nam một thời lửa đạn. Đó là tình đoàn kết xóm làng “Hàng xóm… lều tranh” , đó là ý chí, nghị lực, niềm tin bền vững của những người bà, người mẹ ở hậu phương luôn hướng ra tiền tuyến. Lời bà dặn cháu “Cứ bảo ở nhà…” không chỉ cho ta thấy được hình ảnh một người bà đảm đang, tần tảo, mà còn làm sáng lên phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam: kiên cường, anh dũng, hi sinh. Phần buồn lo bà gánh hết, để giành cho con cháu niềm an vui.

Và như thế, vẻ đẹp lung linh, sáng ngời của tình bà cháu gắn bó đã hoà quyện trong tình yêu đất nước, quê hương.

– Khổ thơ thứ 5 :

Từ hình ảnh cụ thể, tả thực, tĩnh tại trừu tượng: từ hình ảnh bếp lửa, lời thơ bừng sáng thành “ngọn lửa” – một sự chuyển hoá hợp lí và mang một tầng nghĩa mới:

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

… Một bếp lửa chứa niềm tin dai dẳng

Nếu “bếp lửa” ở những câu thơ trên là vật hữu hình, cụ thể trong mỗi gia đình gần gũi, quen thuộc, là hình ảnh của cs âm thầm, lặng lẽ của hai bà cháu, thì đến đây, rất tự nhiên, người cháu liên tưởng tới một “ngọn lửa” vô hình. Nó mang ý nghĩa khái quát và rộng lớn hơn: đó là ngọn lửa thiêng liêng trong lòng bà, ngọn lửa của tình thương, của sức sống lặng thầm mà mãnh liệt, của niềm tin vào tương lai của cháu, tương lai của quê hương, dân tộc và cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.

Điệp từ “một ngọn lửa” làm giọng  thơ mạnh mẽ, hình ảnh thơ lung linh và làm ấm lòng ngời đọc. Vững tin ở tương lai, bà kiên trì nhóm lửa, giữ cho ngọn lửa của tình yêu, ngọn lửa của niềm tin luôn ấm nóng, toả sáng. “Ngọn lửa” là biểu tượng của sức sống muôn đời.

Kỉ niệm tuổi thơ lắng xuống, mạch thơ chuyển từ cx nhớ thương của người cháu với bà sang những suy nghĩ sâu sắc về bà, về gia đình và những ân nghĩa sâu nặng:

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

… Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa!

Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây hoà vào làm một. Những từ láy gợi cảm “lận đận, nắng mưa” kết hợp với cụm từ chỉ thời gian “mấy chục năm rồi” và các phó từ “tận, vẫn” gợi tả một cách sinh động cuộc đời gian nan, vất vả và sự tần tảo, đức hi sinh của bà. Điệp từ “nhóm” được nhắc lại 4 lần mang những ý nghĩa khác nhau, bồi đắp cao dần, ngày càng toả sáng. Khi bà “nhóm bếp lửa” cũng là lúc bà “nhóm niềm yêu thương”, truyền cho cháu tình ruột thịt nồng ấm, khơi dậy tình làng nghĩa xóm, thắp sáng hoài bão, ước mơ….

Bởi vậy, ngày ngày bà nhóm bếp lửa là nhóm lên sự sống, niềm vui, sự yêu thương. Nhờ ngọn lửa mà bà “”, bà “nhen”, bà “giữ”, cháu thêm hiểu, thêm yêu con người, đất nước, sống ân nghĩa, thuỷ chung, cháu có nghị lực để vượt qua gian khó, trưởng thành. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa.

Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa!

Người cháu yêu bà, nhận ra từ hình ảnh bếp lửa bình dị, thân thuộc ấy sự kì diệu, thiêng liêng. Bếp lửa luôn gắn bó với bà – người phụ nữ Việt Nam tảo tần đầy yêu thương, bếp lửa là đời bà gian khổ, là tình bà ấm nóng, là tay bà chăm chút, là lòng bà ước mơ. Bếp lửa ấy cùng hình ảnh người bà toả sáng trong tâm hồn cháu, nâng đỡ cháu trên suốt mỗi chặng đường đời, trở thành một phần hồn, một phần kí ức sáng đẹp trong cháu. Bếp lửa “kì lạ” và thiêng liêng là vì thế!

* Khổ thơ cuối:

Những dòng thơ cuối cùng sâu lắng và dạt dào cảm xúc nhớ thương.

Giờ cháu đã đi xa có ngọn khói trăm tàu

… Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ. Cháu đã được sống trong những niềm vui rộng mở, giữa những “ngọn khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, nhưng vẫn không quên bếp lửa của bà, không nguôi nhớ thương bà, nên vẫn “không quên nhắc nhở”: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa”. Nỗi nhớ bà trở thành nỗi nhớ thường trực, hình ảnh bà trở thành hình ảnh thiêng liêng trong tâm hồn. Làm ấm lòng, nâng đỡ cháu trên mỗi gian nan của cuộc đời. Hình ảnh bà cũng chính là hình ảnh quê hương đất nước một thời gian khó, đạn lửa.

III. Kết bài

Trong cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy là những điều thiêng liêng, thân thiết nhất. Nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng một kỉ niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ Bếp Lửa của ông.

 

Tại sao bạn không học Novateen?